Mạn đàm với ông Quách Ṭng Đức: Chín năm bên cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (phần 2)

LTS.- Dưới đây là phần tiếp theo bài “Mạn Đàm Với ông Quách Ṭng Đức, cựu Đổng Lư Văn Pḥng Phủ Tổng Thống dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ư kiến nếu có trong bài là ư kiến riêng của ông Quách Ṭng Đức hoặc tác giả Lâm Lễ Trinh.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách Ṭng Đức cho biết ông Diệm chỉ để ư theo dơi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức ṇng cốt của chế độ từ lúc đầu) và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng thống không lưu ư đến như đă từng lưu ư đến kế hoạch Dinh điền hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Đồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Đổ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Đổ Kế Mai, Nguyễn Trân v.v... Bs Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội - tức là chính trị hóa Quân đội - làm yếu Quân đội v́ phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản ḷng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.

Vụ công điện số 9159 cấm treo cờ Phật giáo...

Trong quyển hồi kư “Ḍng họ Ngô Đ́nh”, xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của cố Ngô Đ́nh Cẩn, ghi nơi trang 164-165: Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Đản 1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung, vào Dinh để phúc tŕnh với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như sau về vụ treo cờ Phật giáo: “Sau đó tôi mới bảo Quách Ṭng Đức gởi công văn nhắc các Tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô! Không hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi th́ ích chi?” Nguyễn Văn Minh c̣n viết thêm ư kiến của Tôn Thất Đính: “Ông Đức đă gởi đi một công điện mà không tham khảo ư kiến ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu... Lẽ nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được t́nh báo Mỹ tổ chức?”

Được hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách Ṭng Đức ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với nội dung “chỉ thị cho các cơ quan phụng tự (nhà thờ, chùa chiền...) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi” (nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng thống nhắc nhở quần chúng tôn trọng Quốc kỳ.

Ông Đức kể lại: Tháng tư 1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Đức gởi thông tư lưu ư các giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ VN trong các ngày lễ đạo, không phân biệt tôn giáo nào: treo trước cổng giáo đường, ở chính giữa và phía trên, đúng kích thước, c̣n các cờ đạo và cờ đoàn thể th́ ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh: phía trong các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được treo tự do, không giới hạn. Lệnh của Tổng thống được phổ biến ngay ngày hôm sau.

Theo ông Quách Ṭng Đức, đầu tháng 5.1963, tại Huế, xảy ra một điều đáng tiếc: Để lấy điểm trong lễ Ngân khánh 25 năm thụ phong giám mục của Đức cha Ngô Đ́nh Thục, nhà chức trách hành chánh địa phương đă cho treo cờ Vatican “loạn xạ”, bất chấp thông tư nói trên. Một tuần sau - ngày 8.5.1983 - vào lễ Phật Đản, các Phật tử cũng tự tiện treo cờ Phật giáo như thế. Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng thống nên gây sự phẫn nộ của Phật tử v́ họ cho rằng đây là một biện pháp bất công, kỳ thị. Tại Miền Nam, theo ông Đức, với 4.800 chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.

Ông Đức c̣n nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Đài Phát thanh Huế chiều ngày 8.5.1963, Tổng thống có đ̣i ông vào Văn pḥng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu và chán nản”, công điện ngày 6.5.1963 nói trên và hỏi “một cách sơ sài” ai đă gởi đi chỉ thị ấy. Ông Đức trả lời không biết v́ trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vừa kể. Theo ông Quách Ṭng Đức, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Ḥa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ ở Huế, tướng lănh lập kiến nghị đ̣i cải tổ, việc kiểm soát chùa v.v...), TT Diệm rối trí, không c̣n màng đến việc ra lệnh điều tra.

Để tỏ dàn xếp, Chánh phủ đồng ư cho hai Ủy ban Liên bộ và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16.6.1963 xác định những điểm đă thỏa hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ, hứa xét lại Dụ số 10 trước Quốc hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp dụng Nghị định của Phủ Tổng thống số 116/TTP/TTK ngày 23.9.1960 ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo, hứa sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đ́nh nạn nhân. Tuy nhiên, mọi việc đă quá trễ.

Trong hồi kư “Ngô Đ́nh Diệm, Nỗ lực ḥa b́nh dang dở”, (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lư Quân đội VNCH, trở thành đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến 1.11.1963, có ghi lại: Sau 1975, một cựu đại úy Hoa kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ rằng chính ông đă gài một trái bom nổ chậm chiều 8.5.1963 tại Huế. Sự kiện này cũng được Lương khải Minh, ghi lại trong hồi kư Làm thế nào giết một Tổng thống? (tập 2, trang 366-370). Theo trung tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lư 30.1.1964) đă hy sinh thiếu tá Đặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, để Thich Trí Quang tŕ hoăn chống đối. Ṭa án Mặt trận xử Thiếu Tá Đặng Sỹ khổ sai chung thân.

Được hỏi: trong các tướng thường vô ra Dinh Độc lập, ai là người được sủng ái nhứt, ông Quách Ṭng Đức đáp không do dự: “Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm, mà Tổng thống xem như người nhà!” Điều này không ngăn Đính và Khiêm đóng vai tṛ chính yếu trong cuộc đảo chánh 1.11.1963.

“TT Diệm có thích được nịnh hót hay không?” Ư kiến của Ông Đức: “Tại Bắc Việt, Cộng sản đă thần tượng hóa Hồ Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm, dưới nhiều h́nh thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc gia với số đoàn viên tăng từ 10,000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm 1963, tổ chức đến tận xă, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cọng tác với ông Diệm từ lúc đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang... Ông có công xây dựng Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, tổ chức Chiến dịch tố cộng và đề xướng “Suy tôn Ngô Tổng thống”. Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc v́, với ông Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần lao dân sự và quân sự lộng quyền: Trần Trung Dung (Quốc pḥng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) và người viết (Nội vụ). Bộ Thông tin bị đổi thành Nha Tổng Giám đốc Thông tin do bác sĩ (Cần lao) Trần Văn Thọ phụ trách. Ngày 30.4.1975, ông Thành (Nghị sĩ và Ngoại trưởng thời Nguyễn Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà để tránh sa vào tay CS c̣n bác sĩ Tuyến th́ được điệp viên Việt cộng nằm vùng Phạm Xuân Ẩn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát khỏi Việt Nam. Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho Ṭa Đại sứ Anh ở Sài G̣n. Tại Anh, Bác sĩ Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi phát hành cùng với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi kư “Làm thế nào giết một Tổng thống?”

Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, b́nh dân trong những năm đầu chấp chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng của quyền lực? hoàn cảnh? giới cận thần a dua? Qua ba giai đoạn Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp kỳ 2, nền Đệ nhứt Cọng ḥa đi lần vào bế tắc. Trong gia đ́nh, ông bà Trần Văn Chương, nhạc gia của ông Nhu, - chồng, đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn và vợ, quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc - lợi dụng chức vụ để phản tuyên truyền và đả kích Chánh phủ Sài G̣n. Ngay cả Bác sĩ Trần Văn Đỗ, chú vợ của cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, và luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không c̣n ủng hộ ông Diệm. Ls Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp đỡ của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đă tŕnh luận án Thạc sĩ luật chỉ trích chương tŕnh viện trợ Hoa kỳ ở VN và sau đó, dạy luật tại Đại học Paris. Luật sư Châu cũng như khoa học gia Bửu Hội, năm 1972, cũng ngă theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trần Văn Đôn- người chủ trương đảo chánh - nh́n nhận một cách thương hại: Tội nghiệp, mọi người đều bỏ TT Diệm!

Ông Quách Ṭng tỏ ra dè dặt với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị Phật Giáo. Theo ông, TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo; không bỏ qua dịp viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư bà Diệu Huệ (mẹ giáo sư Bửu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Đế ở Huế.. v.. v.. Chính ông Đức đă nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đỡ. Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đă hiến cho Đức Đạt Lai Lạt Ma trọn số tiền 15,000 mỹ kim, giải thưởng Leadership Magsaysay tặng cho Tổng thống. V́ lư do chánh trị, quyết định này không được công bố.

Ủy ban tôn giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Sài G̣n mời đến điều tra năm 1963 cũng đă phúc tŕnh - sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết - rằng Đệ nhứt Cọng ḥa không kỳ thị tôn giáo. Mặt khác, TT Diệm đă từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng của một vài hàng giáo phẩm Công giáo di cư, bởi thế nên có sự bất măn ngấm ngầm. Theo ông Đức, 2 Giám mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống đối ông Diệm ra mặt.

Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát cạnh bên Tổng thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo: Đổng lư (Quách Ṭng Đức), Tổng thơ kư Nguyễn Thành Cung, Chánh văn pḥng Vơ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết, cận vệ Nguyễn Bằng...

Xem tiếp phần cuối