| Mạn đàm với ông Quách Ṭng
Đức: Chín năm bên cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (phần 1)
LTS.-Ông Qúach Ṭng Đức từng là Đổng Lư Văn
Pḥng Phủ Tổng Thống dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Mới đây
trong cuộc tṛ truyện với ông Lâm Lễ Trinh, ông Đức có tiết lộ một
số chi tiết liên quan đến vị Tổng Thống của Đệ Nhất Cộng Ḥa này.
Trong bài nếu có phần ư kiến nào th́ đó cũng chỉ là ư kiến riêng của
hai vị.
Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Ṭng Đức luôn
luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng
lư Văn pḥng cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, người khai sáng nền Đệ
nhứt Cọng hoà Việt Nam. Sau chính biến 1.11.1963, ông Đức trở lại
ngành tư pháp và được cử nhiệm Chủ tịch Tham Chính Viện naêm 1969.
Tháng 4.1975, Sàig̣n thất thủ, ông và gia đ́nh xin tị nạn chánh trị
tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Pḥng Tố tụng Tổng quát
của thị xă Paris, thời Thị trưởng Jacques Chirac. Ông về hưu đầu năm
1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ c̣n minh mẫn tuy sức khoẻ không tốt như
trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua
nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đă chịu thố lộ với người viết
nhiều điều liên hệ đến giai đoạn chín năm phục vụ vị nguyên thủ quốc
gia bị sát hại năm 1963.
Lần đầu gặp ông Ngô Đ́nh Diệm
Ông Quách Ṭng Đức (QTĐ) sanh tại An xuyên năm 1917, thuộc một gia
đ́nh trung lưu, đậu cử nhân và Cao học Luật Đông Dương năm 1941, Đại
học Hànội, sau khi lấy bằng tú tài tại trường Pétrus Kư, Sàig̣n. Ông
thuộc toán cử nhân đầu tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ
thi đậu năm 1942 vào ngạch huyện, phủ tại Miền Nam VN mà cấp bậc cao
nhứt là Đốc phủ sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng
Đốc đứng đầu tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định
Trần Văn Hữu lập Chánh phủ, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành (xuất
thân là một Đốc phủ sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm,
Dương Tấn Tài, Lê Quang Hộ ...) bổ nhiệm ông QTĐ năm 1951 làm Chánh
Văn pḥng và thiếu tá Dương Văn Minh, Chánh Vơ pḥng. Năm 1953, thủ
hiến Thành và Thiếu tướng Chanson bị nhóm Cao Đài kháng chiến của
Tŕnh Minh Thế ám sát tại Sadec trong một cuộc kinh lư.
Bốn muơi chín (49) ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là
26.6.1954, vua Bảo Đại giao cho cựu Thượng thơ Ngô Đ́nh Diệm lập
chánh phũ, thay thế hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đă ba
lần từ chối lời mời của Bảo Đại: năm 1937, 1945 và 1948.Ông giao
thiệp thân t́nh với nhà cách mạng Phan BộiChâu lúc sanh tiền, có ghé
Nhựt năm1950để hội kiến với Kỳ Ngọai Hầu Cường
Hiệp định Genève, kư ngày 20.7.1954, chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17.
Trong đám đông quần chúng đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi
trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn
quyền Decoux, cùng đi với ông QTĐ. Thủ tướng Diệm - kiêm luôn Bộ
Quốc pḥng và Nội Vụ - mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách Bộ
trưởng Nội Vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng lư Văn pḥng năm 1954.
Ngày 23.10.1955, một cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại. Ngày
26.10.1956, từ Thủ tướng trở thành Tổng thống, ông Diệm thiết lập
nền Đệ nhứt Cọng hoà VN. Quân đội tổ chức một cuộc diễn binh huy
hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sàig̣n dưới quyền điều khiển của
Tướng Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu tướng sau khi tảo thanh
xong B́nh Xuyên taị Rừng Sát. Ông QTĐ thay thế Đổng lư Tôn Thất
Trạch cuối năm 1954 và giữ chức vụ này cho đến ngày Quân đội đảo
chánh năm 1963.
Nhận xét về mối liên hệ của TT Diệm với gia đ́nh
Theo ông QTĐ, năm 1954 chánh phủ Pháp trả trước dinh Gia Long ở
đường Gia Long, và sau khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nhà cầm
quyền Đệ nhứt cọng hoà mới thu hồi Dinh Toàn quyền Norodom, đổi tên
thành Dinh Độc lập, trên đại lộ Thống nhứt. Dinh này đươc kiến trúc
sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mă, xây cất lại hoàn toàn sau ngày
27.2.1962 v́ Dinh bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội
bom hư hại khá nặng.
Dinh Độc lập chia làm hai tầng: tầng dưới có hai pḥng khánh tiết
tráng lệ và các Văn pḥng của Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, Bộ trưởng Phủ
Tổng thống, Đổng lư Văn pḥng, Tổng thơ kư Phủ Tổng thống và nhân
viên. Tầng trên chia làm ba phần: phía trái dành làm Văn pḥng và
pḥng ngủ của Tổng thống, pḥng sĩ quan tuỳ viên; ở giữa có hai
pḥng tiếp tân khang trang; phiá phải là nơi cư ngụ của gia đ́nh ông
bà Nhu với hai con trai, hai gái. Tổng thống Diệm thích làm việc
trong pḥng ngủ, trang trí sơ sài vôùi một cái giường nhỏ bằng gổ,
một bàn tṛn và ba ghế da. Nơi đây, Tổng thống thường dùng cơm và
tiếp các Bộ trưởng và tướng lănh.
Gia đ́nh Tổng thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên đán,
luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ bà cụ Ngô Đ́nh
Khả giao cho người con áp út Ngô Đ́nh Cẩn săn sóc ngày đêm. Ông bà
Ngô Đ́nh Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái. Trưởng nam, Tổng đốc
Ngô Đ́nh Khôi và con trai là Ngô Đ́nh Huân bị CS giết năm 1945. Ba
người con gái là bà Ngô Đ́nh Thị Giao tức bà Thừa Tùng, bà Ngô Đ́nh
Thị Hiệp tức bà Cả AÁm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và
bà Ngô Đ́nh Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị sĩ Trần Trung
Dung. TT Diệm là người con trai thứ ba trong gia đ́nh nhà Ngô, sanh
năm 1901 taị Huế, được vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933 Thượng thơ đầu
Triều lúc 33 tuổi nhưng ông Diệm sớm rủ áo từ quan v́ thực dân Pháp
khoâng chaáp nhaän chương tŕnh cải toå rộng lớn của ông.
Sau ngày ông Khôi qua đời, Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục, trở nên
người anh cả “quyền huynh thế phụ”. Đức cha được kính nể và có nhiều
ảnh hưởng đối với TT Diệm. Ông Quách Ṭng Đức cho biết, lúc c̣n ở
Vĩnh Long, Giám mục Ngô Đ́nh Thục vài tuần th́ về Saigon ngụ trong
Dinh.ÔngNgô Đ́nh Luyện, con út trong gia đ́nh, đại sứ ở Luân Đôn,
năm khi mười họa mới về nước nghỉ phép hayđể dự cácphiên họpcủa
HộiĐồng Tối Cao Tiền Tệmàông là một thành viên.Ông Đức không nhớ có
lần nào gặp ông Cẩn trong Dinh Độc Lập hay không.
Văn pḥng Đổng lư không làm việc thẳng với Cố vấn Nhu. Ông Nhu có
nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng thống mà
người giám đốc đầu tiên là đốc phủ sứ Vũ Tiến Huân, Tham lư Nội An
Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn pḥng của
Sở Nghiên cứu xử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng rào Dinh Độc
lập. Vài tháng trước vụ binh biến 1.11.1963, Bác sĩ Trần Kim Tuyến
bị thất sủng, trung tá Phạm Thư Đường thay thế. Bác sĩ Trần Kim
Tuyến được bổ nhiệm làm Tổng lănh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại
Việt Nam và liên hệ đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành
công, bác sĩTuyến bị Hội đồng Cách mạng đày ra Côn Đảo trên một năm
cùngvớikhỏang 200 nhân vậtchếđộ cũ như Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuaân
Vỹ,đại táNguyeăn Văn Y, Hà NhưChi,Dương Văn Hiếu… Ông Quách Ṭng Đức
không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày 1.11.1963, ông Nhu đă
giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm điều khiển cơ quan mật vụ.
Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cọng tác với Văn pḥng của luật sư
Trương Đ́nh Dzu, ứng cử viên Tổng thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết
cha mẹ là ông bà cựu đại sứ Trần Văn Chương taị Hoa kỳ sau 1975 làm
dư luận xôn xao. Toà án Mỹ tha Khiêm với lư do Khiêm bị bịnh tâm
thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa kỳ. Khiêm hiện sống b́nh thường ở
Pháp. Có sự điều đ́nh chánh trị ǵ trong vụ án này ?
Khi được hỏi cách cư xử của TT Diệm với bà Nhu (nhủ danh Trần Lệ
Xuân), ông Đức cho biết “ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ
tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc hội ban hành Bộ
Luật Gia đ́nh cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như
vậy là giúp cải tổ xă hội. Tuy nhiên, có người lại cho rằng Bộ Luật
Gia đ́nh nhằm mục tiêu riêng: ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với
bà Trần Lệ Chi, chị ruột bà Nhu. Ngồi chức vụ dân biểu Quốc hội, bà
Nhu c̣n là chủ tịch Phong trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách,
bà Nhu đóng vai trị Đệ nhứt Phu nhân v́ Tổng thống độc thân. Tuy bất
b́nh về những lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong
vụ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11.6.1963 (đặc biệt với câu “monks’
barbecue”), ông Diệm không công khai phủ nhận v́ ngại đụng chạm đến
ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ vị. Chính ông Nhu, với tánh hay
nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát
ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo, đơn sơ, nặng về
tôn giáo, qua lại giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành tài.
Trưởng nữ Ngô Đ́nh Lệ Thủy chết trong một tai nạn lưu thông sau
1975. Sự bất hạnh khơng ngớt đeo đuổi gia đ́nh nhà Ngô. Thời gian
gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức lễ cầu hồn hằng năm tại
Paris cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người c̣n lui tới với bà
Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao động Hùynh Hữu Nghiă. Ông Nghĩa
qua đời năm vừa rồi.
Về tin đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương
xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..v..), ông Đức cho rằng
TT Diệm tin TGM Thục không làm điều ǵ quấy, ngài phải kiếm tiền
nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc
đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican sau 1975,
TGM Ngô Đ́nh Thục được Giáo hoàng phục hồi chức tước, về hưu ở Hoa
kỳ và đă ra đi b́nh yên tại một Viện dưỡng lăo công giáo thuộc tiểu
bang Missouri.
Ông QTĐ xác nhận ông Ngô Đ́nh Nhu chẳng những là lư thuyết gia mà
c̣n là bộ óc của Đệ nhứt Cộng hoà, “l’homme indispensable, nhân vật
cần thiết”. Ông xuất thân từ Ecole des Chartes Paris, trầm tỉnh, ít
nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách
hơn là ñoàng chí của ông. Trong lối ba năm chót của chế độ, dù giữ
quyền quyết định cuối cùng trong mọi việc, TT Diệm thường phê chuyễn
các hồ sơ chánh trị quan trọng qua cho ông Nhu để lấy ư kiến, không
kể những cuộc gặp mặt thảo luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm
thầm, cần mẫn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn
của bà Nhu) trong một văn pḥng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh
sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone
với bên ngoài. Ông thường phê vào các công văn với một cây bút ch́
mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, và thuyết Nhân
Vị, Personnalisme, nối kết hai xu hướng của triết gia gia công giáo
Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973). Ông
phát động phong trào ấp chiến lược từng gây thiệt hại cho CS Bắc
Việt. Quốc sách Ấp Chiến Lược là do nghị định số 11-TTPvàông Nhu giữ
vai tṛ Chủ tịch Ủy Ban Liên Bộ Ấp Chiến Lược. Ông Nhu cũng cho
thành lập Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao
Xuân Vỹ phụ trách. Ông đẩy mạnh tở chứcLao động ở Việt nam và nâng
đỡ Trần Quốc Bửu. Đại tá CIA Lansdale (người đă ủng hộ Magsaysay trở
thành Tổng thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với Lực
lương kháng chiến Cao Đài để đưa tướng Tŕnh Minh Thế về với Quốc
gia. Ngoài chức Toång Bí thơ Đảng Cần Lao (tổ chức theo mô h́nh đảng
Cộng Sản sa, với một Quân ủy trong Quaân ñoäi), có một lúc ông Nhu
là dân biểu Quốc hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng thống trong
các cuộc kinh lư. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu chuộng của ông và
đồng thời là cơ hội t́m nơi yên tịnh để suy nghĩ.
Ông đại sứ Luyện, gốc kỹ sư, tánh t́nh cởi mở, thích giao du với bạn
bè mỗi khi về Việt Nam nhưng không có nhiều ảnh hưởng v́ không xen
vào vấn đề nội trị. Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống taị
Luân đôn và đại diện VNCH ở nhiều xứ AÂu châu và Phi châu. Sau khi
vợ trước qua đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con.
Bà Luyện sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963,
ông Luyện làmđại sứở Paris, sauđó sang Phi châu làm việc một thời
gian, t́nh trạng kháchật vật khi về hưu.Ông có qua Hoa kỳ vài lần để
thăm Đức TGM Thục, không c̣n liên với bà Nhu. Ông Luyện đă qua đời
tại Pháp.
Cho đến cuối năm 1961, vai tṛ của ông Ngô Đ́nh Cẩn, Cố vấn lănh đạo
Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể. Ông
Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững t́nh h́nh địa phương, có óc tổ
chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn đống, ăn
trầu, (từ đó biệt danh “Ông Cố Trầu”), độc thân, thích hút thuốc Cẩm
Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh hưởng của ông lan vào
Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa chiêu hồi của Đoàn Công
tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán xuyến, sự hiện diện của Nguyễn
Văn Hay trong cương vị phó Tổng Giám Đốc taị Tổng nha Cảnh sát Công
An Sàig̣n và các hoạt động của cánh Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan
Ngọc Các điều khiển.
Được hỏi về tin đồn có sự cạnh tranh ảnh hưởng chánh trị giữa ông
Nhu và ông Cẩn, ông Qúach Ṭng Đức nói chỉ nghe nói phong thanh. Vào
tháng 10.1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt
động về đoàn thể và đóng cửa Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài Trung
gồm có Hồ Đắc Trọng và đại úy Nguyễn Văn Minh. H́nh như sự hiện diện
của TGM Ngô Đ́nh Thục tại Huế đă bó tay ông Cẩn phần nào. Ông Cẩn
không dám phê b́nh chị dâu tuy không ưa bà Nhu. Trong phạm vi cá
nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng tọa Thích Trí Quang nhưng
điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo.
Người viết có yêu cầu ông Quách Ṭng Đức cho biết trong gia đ́nh họ
Ngô, ai là người gây tiếng tăm bất lợi cho chế độ, suy nghĩ một
phút, ông Đức đáp: “TGM Thục và bà Nhu. Đặc biệt trong giai đọan
Phật giáo. Đức cha ảnh hưởng quá nặng ngoài lănh vực tôn giáo. Bà
Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều ít thấy trong giới phụ nữ VN.
Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô Đ́nh rất khắn khít, mỗi người giúp
tay tích cực xây dựng chế độ trong một lănh vực. Sự đoàn kết ấy được
diễn tả trong huy hiệu Đệ nhứt cọng hoà: năm cành trúc kết thành một
bó, dưới khẩu hiệu “Tiết trực Tâm Hư.” Tuy nhiên, mỗi nhân vật có cá
tánh riêng, nhận định không luoân luoân nhaát thoáng, đôi khi c̣n
maâu thuaån. Đó là hậu quả khó thể tránh trong một chế độ dựa vào
gia tộc để lănh đạo. Phe chống đối cũng như Hoa kỳ và Cộng sản đều
khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm này”.
Dư luận cho rằng trong năm chót của chế độ, trước cuộc binh biến
1.11.1963, ông Nhu – trên thực tế – là một “Tổng thống không ngôi”
v́ có nhiều quyền lực, làm lu mờ vai tṛ của ông Diệm nhưng quyền
bính hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên
trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ nhiệm
ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn thể chánh
trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm “Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho ông
danh xöng naøy. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu hơn là
ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông Nhu ñoùng
vai troø “l’aâme damneùe, linh hoàn ñaøy ñoïa”. Đó là đầu mối thảm
trạng xảy ra cho hai người vào giờ phút chót.
TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng của
bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lănh chấp nhận điều đ́nh
với ông. Phần đông tướng lănh kính nể TT Diệm nhưng tất cả ngán sợ
ông Nhu v́ ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lănh. Sự ngán sợ đă trấn áp
ḷng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh vị nguyên thủ quốc gia.
3 giờ trưa ngày 1 tháng 11, lúc tiếng súng đang nổ lớn, TT Diệm điện
thọai cho đại sứ Lodge: Một cuộc điện đàm ngắn ngủi, đầy phẫn nộ
trong khuôn khổ ngoại giao. Conein thúc đảo chánh phải bắt sống cho
kỳ được hai ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng să: “On ne fait pas
l’omelette sans casser les oeufs, Không thể rán trứng mà không đập
bể trứng! ”, theo Trần Văn Đôn kể lại trong Hồi kư.
Lúc 4 giờ sáng ngày 2.11.1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng
I và II là tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng
Cách Mạng. Hy vọng cuối (của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô
Đ́nh Nhu) cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng thống cho phép đại úy Đỗ
Thọ, sĩ quan tùy viên, điện thoại cho chú của ông là đại tá Đỗ Mậu
yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợ lớn. Lúc 6 giờ và 6
giơ 45 sáng ngày 2.11.63, TT Diệm đích thân điện thoại cho các tướng
Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và và Trần Thiện Khiêm Khiêmđể t́mgiải
phápcho các cuộckhủng hỏang. Ông Minh chỉ định Mai Hữu Xuân, Nguyễn
Văn Quang, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung đi
đón, với chỉ thị riêng thanh toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về
tới Bộ Tổng tham mưu.
Con người ông Ngô Đ́nh Diệm
Một số sách vở và tài liệu đă nóí về cuộc đời chánh trị và riêng tư
của TT Ngô Đ́nh Diệm như một lănh tụ chính trị cương trực, khí khái,
chống cộng cố hữu (anti-communiste invétéré) cũng như bướng bỉnh với
đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ.(?) Theo ông Qúach Ṭng Đức, TT
Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu, một
tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nh́n thẳng vào
người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên g̣ má dưới mắt trái
của Tổng thống được các nhà tử vi xem như báo hiệu một số mạng nhiều
buồn phiền và tang tóc. Ông không naëng lời hay gắt gỏng với cấp
thừa hành, khi không vừa ư.
Sau cái bề ngoài trầm tỉnh, TT Diệm là một con người cuồng nhiệt,
một hỏa diệm sơn, kiên tŕ trong mục đích, không nhân nhượng trên
những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc tại Dinh, ông Đức
cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – v́ lư do đặc biệt – Tổng
thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn .. Những “trận băo” này, tuy
nhiên, qua mau, Tổng thống tự kềm chế cấp thời v́ bản tánh của ông
bộc trực, không cố chấp, không thâm độc. Ông có thể độc thoại hàng
giờ khi nói đến những đề tài mà ông nghiền ngẫm như chủ thuyết cộng
sản, ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh, hay
văn hoá Khoång Mạnh. Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai
hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sang taïi
một pḥng riêng trong Dinh, hoặc nhà nguyện Ḍng Chúa Cứu thế. Trang
phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không thay đổi. Làm việc bất
chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người thân cận mệt nhoài. Khi có
vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên hữu trách vào Dinh để đàm đạo
thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc tŕnh, hồ sơ đến khuya, uống trà,
hút thuốc nhưng không bao giờ hút hết phân nửa điếu thuốc.
TT Diệm kinh lư không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba ngày,
đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, xử dụng mọi phương
tiện chuyên chở: máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực thăng…Ông không
hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái và thân mật ở giữa những
nhóm nhỏ, không quan cách.
Khi nhóm Hội đồng Nội các, Tổng thống Diệm thường ra ngoài chương
tŕnh ấn định, nếu t́nh cờ gặp một đề tài gây chú ư. Ông nói say mê,
không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư cách thơ kư
phiên họp, ông Quách Ṭng Đức ghi mệt tay. Lúc bế mạc, các bộ trưởng
thường phải nhờ ông Đức tóm tắt v́ suốt chín năm trời làm việc bên
cạnh Tổng thống, ông Đức đă quen và rút kinh nghiệm, tuy đôi lúc
cũng đoán lầm.
TT Diệm sống rất nặng về lư tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm khắc
và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát
thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy
sinh v́ đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước,
một lời khen của lănh tụ đủ gây măn nguyện. Khổ nỗi, không phải cán
bộ nào cũng thánh thiện như thế. Cuộc binh biến năm 1963 là một sự
cải chính xót xa. Sánh với Hồ Chí Minh, ông Diêm là một lănh tụ đức
độ, nhưng thiếu mưu lược.
Thú tiêu khiển của TT Diệm không nhiều v́ thiếu giờ rảnh. Ông thích
cỡi ngựa ở Đàlạt hay trong ṿng rào của Dinh Độc Lập trong những năm
yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp h́nh và rất vui khi nhận
được một máy lọai mới. Chủ tiệm chụp h́nh Hà Di thường được gọi vào
Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa
dùng tại ngay pḥng ngủ, do ông già AÅn và đại uư Nguyễn Bằng phục
dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và
rau. Tổng thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín
chăm sóc. Pḥng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết
phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng thống th́ giao trọn cho
Chánh văn pḥng đặc biệt Vơ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn.
Ông Hải, học tṛ cũ của Gíam mục Ngô Đ́nh Thục, tốt nghiệp Trường
Khoa Học Chính trị Paris, cử nhân Hán Học, rể của cựu Thượng thơ
Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống Diệm từ lúc c̣n bôn ba ở hải
ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được
TT Diệm chỉ định ngày11.11.1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc
với các sĩ quan chỉ huy cuộc binh biến Nguyễn Chánh Thi - Vương Văn
Đông để t́m hiểu yêu sách của họ. Tuy nhiên, ông Vơ Văn Hải chống
ông baø Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích
ông Cẩn.
Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Vơ Văn Hải tổ chức nhóm “Tinh thần
Ngô Đ́nh Diệm” và ra ứng cử dân biểu taị Sàig̣n nhưng thất cử. Năm
1974, không hiểu v́ sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện,
ủng hộ nhiệt t́nh tướng Dương Văn Minh là người bị cho là có trách
nhiệm v́ cái chết của hai anh em ông Diệm-Nhu.
Xem tiếp phần 2 |